Trị Ho, Khản Tiếng Từ Cây Húng Chanh

Tran Anh

Nông dân thích trồng rau
Thành viên BQT
#1
1. Tên gọi:

– Tên gọi Việt Nam: Tần dày lá, Húng chanh, Rau thơm lùn, rau thơm lông, rau tần, dương tử tô
– Tên khoa học: Plectranthus amboinicus (đồng nghĩa: Coleus amboinicus)
– Thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae)

2. Mô tả:

– Cây thân thảo, sống lâu năm.
– Cao 20-50cm.
– Phần thân sát gốc hoá gỗ. Lá mọc đối, dày cứng, giòn, mọng nước, mép khía răng tròn. Thân và lá dòn, mập, lá dày có lông mịn, thơm và cay . Hai mặt lá màu xanh lục nhạt. Hoa nhỏ,4 tiểu nhị, màu tím đỏ, mọc thành bông ở đầu cành. Quả nhỏ, tròn, màu nâu. Toàn cây có lông rất nhỏ và thơm như mùi canh nên 1 số nơi gọi là Húng chanh.

Mùa hoa quả: tháng 4-5

3. Bộ phận dùng:

– Lá và ngọn non, thu hái quanh năm.

4. Nơi sống và thu hái:

– Cây có gốc ở quần đảo Môluýc (miền Mã Lai) được trồng làm gia vị và làmthuốc.

– Có thể thu hái lá quanh năm, thường dùng tươi, dùng đến đâu hái đến đó. Lúc trời khô ráo, hái lá bánh tẻ, loại bỏ các lá sâu hay lá già úa vàng, đem phơi nắng nhẹ hay sấy ở 40-45oC đến khô.

5. Thành phần hoá học:

– Lá chứa ít tinh dầu (0,05-0,12%), trong tinh dầu có đến 65,2% các hợp chất phenolic trong đó có salicylat, thymol, carvacrol, eugenol và chavicol; còn có một chất màu đỏ là colein.

6. Tính vị – tác dụng:

– Tính vị: Húng chanh có vị the cay, hơi chua, mùi thơm, tính ấm, không độc.
– Tác dụng: có tác dụng lợi phế, trừ đờm, giải cảm, làm ra mồ hôi, làm thông hơi, giải độc. Colein trong lá có tác dụng kháng sinh mạnh đối với một số vi trùng, nhất là ở vùng họng, mũi, miệng và cả ở đường ruột, chữa cảm, cúm, sốt cao, sốt không ra mồ hôi được, viêm phế quản, ho, hen, ho ra máu, viêm họng, khản tiếng, nôn ra máu, chảy máu cam: ngày dùng 10-16g dạng thuốc sắc, thuốc xông hoặc giã nát, thêm nước gạn uống. Dùng ngoài giã đắp trị rết, bọ cạp cắn


7. Công dụng, chỉ định và phối hợp:

– Nhân dân ta thường thái nhỏ lá Húng chanh để ướp thịt, cá, nó là loại gia vị đặc sắc. Lá và ngọn non thường được dùng trị cảm cúm, ho hen, ho ra máu, sốt cao, sốt không ra mồ hôi, nôn ra máu, đổ máu cam, còn dùng chữa viêm họng, khản tiếng. Liều dùng 10-15g, dạng thuốc sắc hoặc giã lấy nước uống. Có thể dùng riêng hoặc phối hợp với nhiều loại lá khác nấu nước xông.
– Ở Malaixia, người ta dùng lá nấu cho phụ nữ sau khi sinh đẻ nóng, lá tươi giã ra lấy nước cốt cho trẻ em bị sổ mũi uống. Dùng ngoài lấy lá giã ra đắp trị nẻ môi, đau bụng, đau đầu và dùng xoa lên người khi bị sốt.
– Ở Ấn Độ, lá Húng chanh dùng chữa bệnh về đường tiết niệu và rỉ nước âm đạo. Nước ép lá trộn với đường là một loại thuốc gây trung tiện mạnh, cũng dùng trị ho và chứng khó tiêu.

8. Một số bài thuốc:

a. Chữa cảm cúm, cảm sốt, nhức đầu, nghẹt mũi, ho đờm
– Lấy 15-20gr tần dày lá giã vắt lấy nước cốt để uống, hoặc có thể cho thêm gừng, hành (mỗi loại 12gr) đem nấu uống và xông cho ra mồ hôi.

b. Chữa sốt cao không ra mồ hôi

– Lấy 20gr lá tần dày lá, 15gr lá tía tô, 5gr gừng tươi (cắt lát mỏng), 15gr cam thảo đất. Tất cả đem nấu lấy nước dùng lúc nóng ấm để cho ra mồ hôi.

c. Trị ho, viêm họng, khản tiếng:

– Hái vài lá tần dày lá nhai, ngậm, rồi nuốt nước.

– Lá Húng chanh non 5-10g giã nát vắt lấy nước cốt nóng. Hoặc đem giã nhỏ một nắm lá (15-20g), thêm nước, vắt lấy nước uống làm hai lần trong ngày. Đối với trẻ em, thêm ít đường, đem hấp cơm cho uống làm 2-3 lần.

d. Chữa viêm họng, viêm thanh quản

– Dùng 20gr tần dày lá, 15gr kim ngân hoa, 15g sài đất, 12gr xạ can, 12gr cam thảo đất, đem tất cả nấu lấy nước dùng.

e. Trị chảy máu cam

– Lấy 20gr tần dày lá, 15gr trắc bá (sao đen), 10gr hoa hòe (sao đen) và 15gr cam thảo đất. Đem nấu lấy nước dùng một ngày với lượng như trên; hoặc lấy lá tần vò nát rồi nhét vào bên mũi chảy máu.

f. Trị ho

– 15gr tần dày lá, 5gr lá chanh, 5gr vỏ quýt, 3gr gừng tươi, 10gr đường phèn. Đem nấu uống ngày một thang.

g. Chữa đau nhức do rắn cắn, bò cạp , ong đốt

– Dùng 20gr tần dày lá, một tí muối ăn (loại muối hạt) đem giã nhỏ hoặc nhai kỹ, nuốt nước, còn bã thì đắp vào chỗ ong đốt.

h. Trị nổi mề đay

– Dùng lá tần nhai nuốt nước, bã thì đắp hay xoa xát lên những vùng da nổi mề đay.

i. Chữa đau bụng:

– Lá Húng chanh non rửa sạch, 1-2 lá nhai với một ít muối, ngậm nuốt dần dần.
Ngoài ra, người ta còn dùng lá tần làm rau sống, ăn với gỏi cá cũng rất thơm ngon…
 

Tran Anh

Nông dân thích trồng rau
Thành viên BQT
#2
Người Việt xưa thường có các bài thuốc và các món ăn dân gian được chế biến từ các loại lá cây trong thiên nhiên đã tạo nên một nét khác biệt trong văn hóa ẩm thực của dân tộc. Ngoài việc đem lại một món canh chua chua dễ ăn trong mùa nóng này, món canh này còn có tác dụng tốt trong phòng bệnh khi thời tiết giao mùa cho cả em bé và người lớn trong gia đình nữa đấy.

Rau tần hay còn gọi húng chanh, tần dày lá… được trồng trong vườn và thường để làm gia vị. Ngoài ra, nó còn là một vị thuốc trong đông y; có công dụng: bổ phế trừ đàm, giải cảm, làm ra mồ hôi, thông khí, giải độc; trị các chứng: ho, viêm hầu

Các thực phẩm bạn cần chuẩn bị :

Cá thác lác nạo : 100g

Hành lá

Ớt hiểm

Tỏi phi có dầu

Đầu hành băm

Đường, nước mắm, tiêu, muối, sa tế

Giấm gạo lên men

Bột ngọt

Tôm bóc vỏ : 100g

Cà chua bi : 100g

Thơm : 100g

Nước dùng : 1.2 lít

Tần dày lá

Húng quế


Cách chế biến

  • Cá thác lác tán nhuyễn với tỏi phi băm, dầu phi tỏi, 1/3m tiêu, 1/4m bột ngọt , 1/2m nước mắm, vo viên cỡ trứng cút.

  • Tôm bóc vỏ, lấy chỉ lưng, chừa đuôi, ướp với 1/3 tiêu, 1/4 muối, 1/2 đầu hành, 1/4 bột ngọt
  • Thơm cắt miếng cạnh 2cm, dày 5 li, ướp 1/4 đường, 1/4 muối. Rau thơm cắt nhỏ. Hành lá cắt nhỏ. Ớt hiểm đập giập.
  • Đun sôi nước dùng trên nồi nấu, thêm 1/2 muối, cho chả cá, tôm, cà chua bi và thơm vào nồi nấu nấu chín, cho thêm đường, bột ngọt , giấm gạo lên men , nước mắm, sa tế, ớt hiểm. tắt lửa.
  • Múc canh ra tô, thêm rau thơm, tỏi phi, dùng nóng với cơm hoặc bún.
Chúc các bạn ngon miệng với món canh ngon và hấp dẫn này nhé!
 
Top