Thổ canh Nấm Đối Kháng Trichoderma Kiểm Soát Nấm Bệnh Gây Thối Rễ

papillon

Nông dân thích trồng rau
#1
Nguồn: http://www.sonongnghiep.hochiminhci...=f73cebc3-9669-400e-b5fd-9e63a89949f0&ID=1594

Nấm Trichoderma spp. hiện diện gần như trong tất cả các loại đất và trong một số môi trường sống khác. Chúng là loại nấm được nuôi cấy thông dụng nhất. Chúng hiện diện với mật độ cao và phát triển mạnh ở vùng rễ của cây, một số giống có khả năng phát triển ngay trên rễ. Những giống này có thể được bổ sung vào trong đất hay hạt giống bằng nhiều phương pháp. Ngay khi chúng tiếp xúc với rễ, chúng phát triển trên bề mặt rễ hay vỏ rễ phụ thuộc vào từng giống. Vì vậy, khi được dùng trong xử lý hạt giống, những giống thích hợp nhất sẽ phát triển trên bề mặt rễ ngay cả khi rễ phát triển dài hơn 1m phía dưới mặt đất và chúng có thể tồn tạo, còn hiệu lực cho đến 18 tháng sau khi sử dụng. Tuy nhiên, không có nhiều giống có khả năng này.
Ngoài sự hình thành khuẩn lạc trên rễ, nấm Trichoderma còn tấn công, ký sinh và lấy chất dinh dưỡng từ các loài nấm khác. Bởi vì nơiTrichoderma phát triển tốt nhất là nơi có nhiều rễ khỏe mạnh, vìTrichoderma sở hữu nhiều cơ chế cho việc tấn công các loài nấm gây bệnh cũng như cơ chế cho việc nâng cao sự sinh trưởng và phát triển của cây. Nhiều phương pháp mới trong kiểm soát sinh học và nâng cao sự sinh trưởng của cây hiện nay đã được chứng minh rõ ràng. Quá trình này được điều khiển bởi nhiều gen và sản phẩm từ gen khác nhau. Sau đây là một số cơ chế chủ yếu: Ký sinh nấm, kháng sinh, cạnh tranh chất dinh dưỡng và không gian; sự chịu đựng các điều kiện bất lợi bằng việc gia tăng sự phát triển của cây và rễ; làm hòa tan và cô lập chất dinh dưỡng vô cơ, cảm ứng sự kháng bệnh, bất hoạt enzyme gây bệnh.


Nấm Trichoderma tấn công nấm khác.

Hầu hết các giống Trichoderma không sinh sản hữu tính mà thay vào đó là cơ chế sinh sản vô tính. Tuy nhiên, có một số giống sinh sản hữu tính đã được ghi nhận nhưng những giống này không thích hợp để sử dụng trong các phương pháp kiểm soát sinh học. Phương pháp phân loại truyền thống dựa trên sự khác nhau về hình thái, chủ yếu là ở bộ phận hình thành bào tử vô tính. Gần đây, nhiều phương pháp phân loại dựa trên cấu trúc phân tử đã được sử dụng. Hiện nay, nấmTrichoderma ít nhất 33 loài.

Khả năng kiểm soát bệnh

Rất nhiều giống Trichoderma có khả năng kiểm soát tất cả các loài nấm gây bệnh khác. Tuy nhiên một số giống thường có hiệu quả hơn những giống khác trên một số bệnh nhất định. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, nấm Trichoderma giết nhiều loại nấm gây thối rễ chủ yếu như:Pythium, RhizoctoniaFusarium. Quá trình đó được gọi là: ký sinh nấm (mycoparasitism). Tricoderma tiết ra một enzym làm tan vách tế bào của các loài nấm khác. Sau đó nó có thể tấn công vào bên trong loài nấm gây hại đó và tiêu thụ chúng. Chủng sử dụng trong T-22 tiết ra nhiều enzym chính yếu, endochitinase,hơn các chủng hoang dại, do đó, T-22 sinh trưởng tốt hơn và tiết ra nhiều enzym hơn các chủng hoang dại. Sự kết hợp này cho phép nó bảo vệ vùng rễ của cây trồng chống lại các loại nấm gây thối rễ trên đồng ruộng.

Những phát hiện mới hiện nay cho thấy rằng một số giống có khả năng hoạt hóa cơ chế tự bảo vệ của thực vật, từ đó những giống này cũng có khả năng kiểm soát những bệnh do các tác nhân khác ngoài nấm.

Ứng dụng của nấm đối kháng Trichoderma


Chất kiểm soát sinh học

Hiện nay loài nấm này đã được sử dụng một cách hợp pháp cũng như không được đăng ký trong việc kiểm soát bệnh trên thực vật. Các chế phẩm nấm Trichoderma được sản xuất và sử dụng như là chất kiểm soát sinh học một cách có hiệu quả. Hình thức sử dụng dưới dạng chế phẩm riêng biệt hoặc được phối trộn vào phân hữu cơ để bón cho cây trồng vừa cung cấp dinh dưỡng cho cây vừa tăng khả năng kháng bệnh của cây.

Kích thích sự tăng trưởng của cây trồng

Những lợi ích mà những loài nấm này mang lại đã được biết đến từ nhiều năm qua bao gồm việc kích thích sự tăng trưởng và phát triển của thực vật do việc kích thích sự hình thành nhiều hơn và phát triển mạnh hơn của bộ rễ so với thông thường. Những cơ chế giải thích cho các hiện tượng này chỉ mới được hiểu rõ ràng hơn trong thời gian gần đây. Hiện nay, một giống nấm Trichoderma đã được phát hiện là chúng có khả năng gia tăng số lượng rễ mọc sâu (sâu hơn 1 m dưới mặt đất). Những rễ sâu này giúp các loài cây như bắp hay cây cảnh có khả năng chịu được hạn hán.

Một khả năng có lẽ đáng chú ý nhất là những cây bắp có sự hiện diện của nấm Trichoderma dòng T22 ở rễ có nhu cầu về đạm thấp hơn đến 40% so với những cây không có sự hiện diện của loài nấm này ở rễ.

Khả năng ứng dụng ở Việt Nam

Các kết quả nghiên cứu của Trường Đại học Cần thơ, Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long, Công ty thuốc sát trùng Việt Nam, Viện Sinh học Nhiệt đới đã cho thấy hiệu quả rất rõ ràng của nấm Trichoderma trên một số cây trồng ở Đồng bằng Sông Cửu long và Đông Nam Bộ. Các nghiên cứu cho thấy nấm Trichoderma có khả năng tiêu diệt nấm Furasium solani ( gây bệnh thối rễ trên cam quýt, bệnh vàng lá chết chậm trên tiêu ) hay một số loại nấm gây bệnh khác như Sclerotium rolfsii, Fusarium oxysporum, Rhizoctoniasolani. Công dụng thứ hai của nấmTrichoderma là khả năng phân huỷ cellulose, phân giải lân chậm tan. Lợi dụng đặc tính này người ta đã trộn Trichoderma vào quá trình sản xuất phân hữu cơ vi sinh để thúc đẩy quá trình phân huỷ hữu cơ được nhanh chóng. Các sản phẩm phân hữu cơ sinh học có ứng dụng kết quả nghiên cứu mới này hiện có trên thị trường như loại phân Cugasa của Công ty Anh Việt ( TP. Hồ Chí Minh ) phân VK của Công ty Viễn Khang ( Đồng Nai ) đã được nông dân các vùng trồng cây ăn trái, cây tiêu, cây điều và cây rau hoan nghênh và ứng dụng hiệu quả.
 
Chỉnh sửa cuối:

papillon

Nông dân thích trồng rau
#2
Như vậy chúng ta có thêm một biện pháp phòng trừ bệnh thối rễ cho dưa leo, dưa vàng, cà chua là dùng nấm Trichoderma ủ phân và dùng phân này bón lót cho cây trước khi trồng hoặc rải trực tiếp giống nấm này lên trên khu vực gốc. Nấm sau đó sẽ phát triển trong đất và ngăn chặn các nấm gây bệnh cho rễ cây.
 
Chỉnh sửa cuối:

tulamgiado

Nông dân thích trồng rau
#3
Sếp pap có thể demo một mẫu bao bì thương mại của loại nấm này để anh em biết mà mua ah !
 

papillon

Nông dân thích trồng rau
#4
Sếp pap có thể demo một mẫu bao bì thương mại của loại nấm này để anh em biết mà mua ah !
Nấm Trichoderma có rất nhiều đơn vị cung cấp với nhiều loại tên thương mại khác nhau. Bạn có thể hỏi Nấm đối kháng ở các cửa hàng Vật tư nông nghiệp.

 
Chỉnh sửa cuối:

papillon

Nông dân thích trồng rau
#6
Như vậy loại nào có ghi dùng để ủ thì mới ủ được, còn số còn lại thì bón trực tiếp hả bác ?
Về lý thuyết thì giống nấm có thể để ủ hoặc bón trực tiếp đều được, nhưng nên mua sản phẩm có hướng dẫn sử dụng đúng mục đích của mình để còn biết liều lượng sử dụng cụ thể bạn ạ.
 

papillon

Nông dân thích trồng rau
#9
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG VI NẤM TRICHODERMA

Trong tự nhiên, đất chứa nhiều vi sinh vật sống chung với Trong thời gian gần đây, người ta thường bàn nhiều đến Trichoderma và các công dụng của nó trong lĩnh vực phân bón vi sinh. Tuy nhiên Trichoderma không phải mới được phát hiện và ứng dụng gần đây mà khoảng 200 năm về trước, Trichoderma được phát hiện ra và hiện nay loài đó được biết là Trichoderma viride. Hơn 150 năm sau, Trichoderma chỉ là đối tượng của vài nhà phân loại nấm học nhưng không hấp dẫn được mối quan tâm của các ngành khoa học khác. Tình hình thay đổi trong Thế Chiến lần thứ II, khi quân đội Mỹ cảnh báo về hiện tượng các trang bị quân sự bị mục ở xứ nhiệt đới, đặc biệt là ở Nam Thái Bình Dương. Chương trình điều tra của quan đội Mỹ chỉ ra rằng Trichoderma "viride" mã số QM 6a là loài nấm phân hủy cellulose ở khu vực này. Sự nhầm lẫn này kéo dài suốt 20 năm cho đến khi chủng Trichoderma QM 6a này được nhận diện và đặt tên lại là Trichoderma reesei để tỏ lòng tôn kính người đã khám phá ra loài này là Elwyn T. Reese, tác giả làm việc tại viện nghiên cứu Natick với sự cộng tác của Mary Mandels đã nghiên cứu nhiều đề tài về sinh tổng hợp, cơ chế phân hủy cellulose và các hợp chất polysaccharides khác của chủng Trichoderma reesei này và các thể đột biến trên chủng đó. Nhờ những công trình đó mà nhiều phòng thí nghiệm khác ở Mỹ, Châu Âu và Châu Á tiếp tục nghiên cứu và khám phá ra hệ thống phân giải cellulose của Trichoderma vào cuối thập niên 60. Cùng thời điểm đó, Rifai và Webster ở Anh lần đầu tiên phân loại và mô tả được 9 loài Trichoderma, Việc nuôi cấy dể dàng và không tốn kém các chủng Trichoderma đã lôi kéo các nhà nghiên cứu đi vào các hướng nghiên cứu cơ bản về Trichoderma hơn là ứng dụng về phân giải cellulose của chúng. Một phát hiện quan trọng trong nghiên cứu về Trichoderma là khả năng kích thích tăng trưởng cho cây trồng và khả năng đối kháng với các loài nấm bệnh giúp Trichoderma được dùng như là tác nhân kiểm soát sinh học trong nông nghiệp. Ngày nay, lĩnh vực này đã trở thành hướng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới.

Trong tự nhiên, đất chứa nhiều vi sinh vật sống chung với nhau. Chúng cạnh tranh nhau về không gian sinh sống và chất dinh dưỡng. Một số vi sinh vật gây bệnh cho cây trồng, số khác là những sinh vật phân hủy các chất hữu cơ nhưng không gây hại cho cây trồng, số còn lạigiúp ích cho cây trồng bằng cách đối kháng với vi sinh vật gây bệnh hoặc tăng cường khả năng kháng bệnh của cây, Trichoderma thuộc vào nhóm này, chúng sống trên các xác bã thực vật và các chất hữu cơ trong đất nhưng không gây hại cho thực vật, một số loài Trichoderma có khả năng ký sinh trên các loài nấm gây bệnh cho cây trồngmột số loài Trichoderma có khả năng ký sinh trên các loài nấm gây bệnh cho cây trồng. Các nấm bệnh có thể bị Trichoderma ức chế: Pythium, Phytophthora, Fusarium, Rhizoctonia, Sclerotinia và Verticillium. Trichoderma được xếp vào nhóm nấm nhỏ, phân bố ở hầu hết các loại đất trên thế giới.

Trichoderma vừa có khả năng phân hủy cellulose vừa có khả năng đối kháng lại các loài nấm gây bệnh ở thực vật nên việc dùngTrichoderma trong phân bón là lựa chọn tốt vừa bảo vệ được cây trồng, tăng thêm thu nhập, giảm chi phí đầu tư và bảo vệ môi trường

Cellulose là chất hựu cơ được tổng hợp nhiều nhất trên thế giới hiện nay, có khoảng từ 60 đến 90 tỷ tấn hàng năm được các loài thực vật tạo ra. Đây cũng là loại polymer được sử dụng nhiều nhất (gỗ xây dựng, bột giấy, sợi dệt vải,....). Ở cấp độ sinh quyển, hàng tỷ tấn cellulose được tạo ra mỗi năm cần phải được phân hủy, nếu không chúng sẽ tích tụ lại và gây nguy hiểm cho hệ sinh thái. Điều không may là cellulose lại "kháng" lại mạnh mẽ với các enzyme phân hủy chúng nhưng may mắn là Trichoderma lại có khả năng phân hủy cellulose mạnh mẽ.

Trong các hệ sinh thái tự nhiên như trong rừng, các loài nấm thường kết hợp với các vi khuẩn phân hủy cellulose thành các đơn phân (monomer) rất dể hấp thu đối với các sinh vật khác. Tuy nhiên trong các hệ sinh thái nhân tạo như các vườn, trang trại, đồn điền, ruộng lúa, ... các sinh vật phân hủy cellulose trên không tồn tại hoặc rất ít, do đó sẽ không diễn ra quá trình phân hủy cellulose (cũng như các chất cao phân tử khác) một cách dể dàng và nhanh chóng như trong các hệ sinh thái rừng tự nhiên. Vì vậy, chúng ta cần phải bổ sung thêm các loài có khả năng phân hủy cellulose mạnh như Trichoderma, xạ khuẩn vào trong các nguyên liệu chứa cellulose để việc phân hủy được nhanh chóng và triệt để hơn. Vì việc phân hủy cellulose diễn ra chậm sẽ dẫn đến cây trồng bị ngộ độc nếu không "xử lý" các chất hữu cơ này. Tập quán canh tác hiện nay thường đốt bỏ các chất cellulose này đi và dùng phân hóa học để "bổ sung" cho những thứ lấy từ đất vừa bị đốt đi, cả 2 việc trên đều có ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của chúng ta.

Theo nghiên cứu của Thái Lan, trong rơm rạ từ lúa có thành phần NPK như sau (g/kg trọng lượng khô):

  • 5,5 N
  • 0,9 P
  • 23,9 K
Ước tính mỗi ha ruộng lúa có trung bình khoảng 250.000 gốc rạ. Mỗi gốc rạ có trọng lượng khô khoảng 250g, như vậy ta sẽ thu được trên 1 ha chất thải từ rơm rạ trong đó có chứa:

  • 344 kg N
  • 56 kg P
  • 1494 kg K
Giả sử 1 bao phân NPK (15:15:15) 50Kg có giá 16 USD, như vậy mỗi bao có chứa 22,5 Kg chất dinh dưỡng (N,P,K). Như vậy, giá cho mỗi kg chất dinh dưỡng là:

16USD : 22,5 kg = 0,71 USD/kg

Nếu ta nhân với tỉ lệ 344+56+1.494 kg ta có giá cho mỗi ha từ rơm rạ là :

244,24 + 39,76 + 1060,74 = 1344,74 USD

Quy thành VNĐ: (theo tỉ giá ngày 20/08/2012 1 USD = 20860 VND của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam)

1344,74*20860 VND = 28.051.276 VND

Như vậy, nếu đốt bỏ rơm rạ trên mỗi ha ruộng lúa đồng nghĩa với việc đốt bỏ hơn 28 triệu đồng cho mỗi ha cho mỗi vụ. Nếu tận dụng phế liệu rơm rạ làm phân bón, chúng ta không những có thể tiết kiệm 26 triệu đồng cho mỗi ha/vụ mà còn giúp bảo vệ môi trường sống xung quanh ta và cho thế hệ mai sau

Ngoài tính chất phân hủy trên, tính đối kháng của Trichoderma cũng được biết đến từ rất lâu, ấn phẩm đầu tiên được xuất bản vào năm 1887. Tuy nhiên, những nghiên cứu chuyên sâu về tính đối kháng và khả năng ứng dụng như là phương thức chống lại các tác nhân gây bệnh trên cây trồng chỉ được bắt đầu vào khoảng giữa 2 cuộc thế chiến. Năm 1952, Wood thông báo về tính đối kháng của Trichoderma viride đối với nấm bệnh trên rau diếp là Botrytis cinerea. Ngày nay, người ta còn biết sử dụng Trichoderma để bảo vệ cây trồng khỏi các bệnh nấm ở rễ (như Pythium, Fusarium, Rhizoctonia; Phytophthora,...) và cả các bệnh ở các phần trên mặt đất (như Botrytis cinerea)

Trichoderma có khả năng đối kháng được với nấm bệnh nhờ vào nhiều "hoạt động" khác nhau, chúng có thể sử dụng:

1. Khángsinh:chúng tạo ra chất có hoạt tính tương tự như "thuốc kháng sinh" có tác dụng kiềm hãm sự tăng trưởng của tác nhân gây bệnh

2. Cạnhtranh:Trichodermasửdụngcùngmộtnguồntàinguyên(dinhdưỡng,không gian sống) với các sinh vật gây bệnh nhưngTrichoderma "xâm chiếm" môi trường trước khi tác nhân không mong muốn đến

3. Ký sinh: tức giết chết các loài gây bệnh bằng cách xâm nhập vào bên trong loài nấm gây hại và/hoặc tiết ra những chất (enzyme) để phân hủy chúng

Trichoderma có thể dùng một hoặc nhiều cách kết hợp để khống chế các loài nấm gây hại, các phương thức có thể thay đổi tùy thuộc vào đối tượng gây hại và điều kiến lý hóa của môi trường tại thời điểm đó (nhiệt độ, độ ẩm,...)

Hoạt động đối kháng của Trichoderma mang tính phòng ngừa nhiều hơn, vì vậy

Trichoderma chỉ hoạt động hiệu quả khi nó "định cư" trước khi các loài nấm bệnh xâm nhập, nó cho phép tạo thành lớp măngsông bảo vệ vùng rễ cây tránh khỏi sự xâm nhập của nấm bệnh. Một khi đã "định cư" Trichoderma sẽ giúp cây trồng phát triển mà không bị nấm bệnh tấn công

Tóm lại, sử dụng Trichoderma sẽ có những lợi ích sau:

  • Tận dụng được phế liệu thực vật làm nguyên liệu sản xuất (phân bón) Bảo vệ rễ cây khỏi các tác nhân gây bệnh
  • Giảm thiểu việc dùng thuốc trừ sâu hóa học để tiêu diệt các nấm gây bệnh Giảm thiểu dùng phân bón hóa học
  • Giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Thông thường, các sản phẩm kiểm soát sinh học hoạt động như tác nhân ngăn ngừa bệnh chứ không có hiệu quả hạ "đo ván" như các thuốc trừ sâu hóa học. Tuy nhiên chúng có hiệu quả lâu dài và không gây ô nhiễm cho môi trường mà các thuốc trừ sâu hóa học không thể sánh kịp.

Nhiều thương phẩm về kiểm soát sinh học đã được phép lưu hành, trong đó các chế phẩm có sử dụng Trichoderma được sử dụng ở nhiều quốc gia (New Zealand, Mỹ, Pháp, Đức, Israel, Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam, ...). Trichoderma được dùng rộng rãi trong các trồng trọt các loài rau, cây ăn quả, trồng hoa, nho và các cây trồng làm cảnh quan.

Ngoài các ưu điểm như trên, khi dùng Trichoderma spp. còn có những ưu điểm khác như:
  • Không gây hại cho người và vật nuôi
  • Có phổ đối kháng rộng trên các loài nấm gây bệnh trên cây trồng
  • Sử dụng nhiều cơ chế để kháng lại các vi sinh vật gây bệnh
  • Tồn tại lâu dài trong đất nhờ khả năng tự sản sinh ra bào tử
  • Phát triển nhanh trong đất
  • Đẩy nhanh quá trình hấp thu chất dinh dưỡng và kích thích tăng trưởng cây trồng
KS. ĐẶNG BÁ LONG
Lược dịch theo Christian P. Kubicek và Gary E. Harman
 

Phó thường dân

Nông dân già @
#10
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG VI NẤM TRICHODERMA

Trong tự nhiên, đất chứa nhiều vi sinh vật sống chung với Trong thời gian gần đây, người ta thường bàn nhiều đến Trichoderma và các công dụng của nó trong lĩnh vực phân bón vi sinh. Tuy nhiên Trichoderma không phải mới được phát hiện và ứng dụng gần đây mà khoảng 200 năm về trước, Trichoderma được phát hiện ra và hiện nay loài đó được biết là Trichoderma viride. Hơn 150 năm sau, Trichoderma chỉ là đối tượng của vài nhà phân loại nấm học nhưng không hấp dẫn được mối quan tâm của các ngành khoa học khác. Tình hình thay đổi trong Thế Chiến lần thứ II, khi quân đội Mỹ cảnh báo về hiện tượng các trang bị quân sự bị mục ở xứ nhiệt đới, đặc biệt là ở Nam Thái Bình Dương. Chương trình điều tra của quan đội Mỹ chỉ ra rằng Trichoderma "viride" mã số QM 6a là loài nấm phân hủy cellulose ở khu vực này. Sự nhầm lẫn này kéo dài suốt 20 năm cho đến khi chủng Trichoderma QM 6a này được nhận diện và đặt tên lại là Trichoderma reesei để tỏ lòng tôn kính người đã khám phá ra loài này là Elwyn T. Reese, tác giả làm việc tại viện nghiên cứu Natick với sự cộng tác của Mary Mandels đã nghiên cứu nhiều đề tài về sinh tổng hợp, cơ chế phân hủy cellulose và các hợp chất polysaccharides khác của chủng Trichoderma reesei này và các thể đột biến trên chủng đó. Nhờ những công trình đó mà nhiều phòng thí nghiệm khác ở Mỹ, Châu Âu và Châu Á tiếp tục nghiên cứu và khám phá ra hệ thống phân giải cellulose của Trichoderma vào cuối thập niên 60. Cùng thời điểm đó, Rifai và Webster ở Anh lần đầu tiên phân loại và mô tả được 9 loài Trichoderma, Việc nuôi cấy dể dàng và không tốn kém các chủng Trichoderma đã lôi kéo các nhà nghiên cứu đi vào các hướng nghiên cứu cơ bản về Trichoderma hơn là ứng dụng về phân giải cellulose của chúng. Một phát hiện quan trọng trong nghiên cứu về Trichoderma là khả năng kích thích tăng trưởng cho cây trồng và khả năng đối kháng với các loài nấm bệnh giúp Trichoderma được dùng như là tác nhân kiểm soát sinh học trong nông nghiệp. Ngày nay, lĩnh vực này đã trở thành hướng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới.

Trong tự nhiên, đất chứa nhiều vi sinh vật sống chung với nhau. Chúng cạnh tranh nhau về không gian sinh sống và chất dinh dưỡng. Một số vi sinh vật gây bệnh cho cây trồng, số khác là những sinh vật phân hủy các chất hữu cơ nhưng không gây hại cho cây trồng, số còn lạigiúp ích cho cây trồng bằng cách đối kháng với vi sinh vật gây bệnh hoặc tăng cường khả năng kháng bệnh của cây, Trichoderma thuộc vào nhóm này, chúng sống trên các xác bã thực vật và các chất hữu cơ trong đất nhưng không gây hại cho thực vật, một số loài Trichoderma có khả năng ký sinh trên các loài nấm gây bệnh cho cây trồngmột số loài Trichoderma có khả năng ký sinh trên các loài nấm gây bệnh cho cây trồng. Các nấm bệnh có thể bị Trichoderma ức chế: Pythium, Phytophthora, Fusarium, Rhizoctonia, Sclerotinia và Verticillium. Trichoderma được xếp vào nhóm nấm nhỏ, phân bố ở hầu hết các loại đất trên thế giới.

Trichoderma vừa có khả năng phân hủy cellulose vừa có khả năng đối kháng lại các loài nấm gây bệnh ở thực vật nên việc dùngTrichoderma trong phân bón là lựa chọn tốt vừa bảo vệ được cây trồng, tăng thêm thu nhập, giảm chi phí đầu tư và bảo vệ môi trường

Cellulose là chất hựu cơ được tổng hợp nhiều nhất trên thế giới hiện nay, có khoảng từ 60 đến 90 tỷ tấn hàng năm được các loài thực vật tạo ra. Đây cũng là loại polymer được sử dụng nhiều nhất (gỗ xây dựng, bột giấy, sợi dệt vải,....). Ở cấp độ sinh quyển, hàng tỷ tấn cellulose được tạo ra mỗi năm cần phải được phân hủy, nếu không chúng sẽ tích tụ lại và gây nguy hiểm cho hệ sinh thái. Điều không may là cellulose lại "kháng" lại mạnh mẽ với các enzyme phân hủy chúng nhưng may mắn là Trichoderma lại có khả năng phân hủy cellulose mạnh mẽ.

Trong các hệ sinh thái tự nhiên như trong rừng, các loài nấm thường kết hợp với các vi khuẩn phân hủy cellulose thành các đơn phân (monomer) rất dể hấp thu đối với các sinh vật khác. Tuy nhiên trong các hệ sinh thái nhân tạo như các vườn, trang trại, đồn điền, ruộng lúa, ... các sinh vật phân hủy cellulose trên không tồn tại hoặc rất ít, do đó sẽ không diễn ra quá trình phân hủy cellulose (cũng như các chất cao phân tử khác) một cách dể dàng và nhanh chóng như trong các hệ sinh thái rừng tự nhiên. Vì vậy, chúng ta cần phải bổ sung thêm các loài có khả năng phân hủy cellulose mạnh như Trichoderma, xạ khuẩn vào trong các nguyên liệu chứa cellulose để việc phân hủy được nhanh chóng và triệt để hơn. Vì việc phân hủy cellulose diễn ra chậm sẽ dẫn đến cây trồng bị ngộ độc nếu không "xử lý" các chất hữu cơ này. Tập quán canh tác hiện nay thường đốt bỏ các chất cellulose này đi và dùng phân hóa học để "bổ sung" cho những thứ lấy từ đất vừa bị đốt đi, cả 2 việc trên đều có ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của chúng ta.

Theo nghiên cứu của Thái Lan, trong rơm rạ từ lúa có thành phần NPK như sau (g/kg trọng lượng khô):

  • 5,5 N
  • 0,9 P
  • 23,9 K
Ước tính mỗi ha ruộng lúa có trung bình khoảng 250.000 gốc rạ. Mỗi gốc rạ có trọng lượng khô khoảng 250g, như vậy ta sẽ thu được trên 1 ha chất thải từ rơm rạ trong đó có chứa:

  • 344 kg N
  • 56 kg P
  • 1494 kg K
Giả sử 1 bao phân NPK (15:15:15) 50Kg có giá 16 USD, như vậy mỗi bao có chứa 22,5 Kg chất dinh dưỡng (N,P,K). Như vậy, giá cho mỗi kg chất dinh dưỡng là:

16USD : 22,5 kg = 0,71 USD/kg

Nếu ta nhân với tỉ lệ 344+56+1.494 kg ta có giá cho mỗi ha từ rơm rạ là :

244,24 + 39,76 + 1060,74 = 1344,74 USD

Quy thành VNĐ: (theo tỉ giá ngày 20/08/2012 1 USD = 20860 VND của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam)

1344,74*20860 VND = 28.051.276 VND

Như vậy, nếu đốt bỏ rơm rạ trên mỗi ha ruộng lúa đồng nghĩa với việc đốt bỏ hơn 28 triệu đồng cho mỗi ha cho mỗi vụ. Nếu tận dụng phế liệu rơm rạ làm phân bón, chúng ta không những có thể tiết kiệm 26 triệu đồng cho mỗi ha/vụ mà còn giúp bảo vệ môi trường sống xung quanh ta và cho thế hệ mai sau

Ngoài tính chất phân hủy trên, tính đối kháng của Trichoderma cũng được biết đến từ rất lâu, ấn phẩm đầu tiên được xuất bản vào năm 1887. Tuy nhiên, những nghiên cứu chuyên sâu về tính đối kháng và khả năng ứng dụng như là phương thức chống lại các tác nhân gây bệnh trên cây trồng chỉ được bắt đầu vào khoảng giữa 2 cuộc thế chiến. Năm 1952, Wood thông báo về tính đối kháng của Trichoderma viride đối với nấm bệnh trên rau diếp là Botrytis cinerea. Ngày nay, người ta còn biết sử dụng Trichoderma để bảo vệ cây trồng khỏi các bệnh nấm ở rễ (như Pythium, Fusarium, Rhizoctonia; Phytophthora,...) và cả các bệnh ở các phần trên mặt đất (như Botrytis cinerea)

Trichoderma có khả năng đối kháng được với nấm bệnh nhờ vào nhiều "hoạt động" khác nhau, chúng có thể sử dụng:

1. Khángsinh:chúng tạo ra chất có hoạt tính tương tự như "thuốc kháng sinh" có tác dụng kiềm hãm sự tăng trưởng của tác nhân gây bệnh

2. Cạnhtranh:Trichodermasửdụngcùngmộtnguồntàinguyên(dinhdưỡng,không gian sống) với các sinh vật gây bệnh nhưngTrichoderma "xâm chiếm" môi trường trước khi tác nhân không mong muốn đến

3. Ký sinh: tức giết chết các loài gây bệnh bằng cách xâm nhập vào bên trong loài nấm gây hại và/hoặc tiết ra những chất (enzyme) để phân hủy chúng

Trichoderma có thể dùng một hoặc nhiều cách kết hợp để khống chế các loài nấm gây hại, các phương thức có thể thay đổi tùy thuộc vào đối tượng gây hại và điều kiến lý hóa của môi trường tại thời điểm đó (nhiệt độ, độ ẩm,...)

Hoạt động đối kháng của Trichoderma mang tính phòng ngừa nhiều hơn, vì vậy

Trichoderma chỉ hoạt động hiệu quả khi nó "định cư" trước khi các loài nấm bệnh xâm nhập, nó cho phép tạo thành lớp măngsông bảo vệ vùng rễ cây tránh khỏi sự xâm nhập của nấm bệnh. Một khi đã "định cư" Trichoderma sẽ giúp cây trồng phát triển mà không bị nấm bệnh tấn công

Tóm lại, sử dụng Trichoderma sẽ có những lợi ích sau:

  • Tận dụng được phế liệu thực vật làm nguyên liệu sản xuất (phân bón) Bảo vệ rễ cây khỏi các tác nhân gây bệnh
  • Giảm thiểu việc dùng thuốc trừ sâu hóa học để tiêu diệt các nấm gây bệnh Giảm thiểu dùng phân bón hóa học
  • Giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Thông thường, các sản phẩm kiểm soát sinh học hoạt động như tác nhân ngăn ngừa bệnh chứ không có hiệu quả hạ "đo ván" như các thuốc trừ sâu hóa học. Tuy nhiên chúng có hiệu quả lâu dài và không gây ô nhiễm cho môi trường mà các thuốc trừ sâu hóa học không thể sánh kịp.

Nhiều thương phẩm về kiểm soát sinh học đã được phép lưu hành, trong đó các chế phẩm có sử dụng Trichoderma được sử dụng ở nhiều quốc gia (New Zealand, Mỹ, Pháp, Đức, Israel, Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam, ...). Trichoderma được dùng rộng rãi trong các trồng trọt các loài rau, cây ăn quả, trồng hoa, nho và các cây trồng làm cảnh quan.

Ngoài các ưu điểm như trên, khi dùng Trichoderma spp. còn có những ưu điểm khác như:
  • Không gây hại cho người và vật nuôi
  • Có phổ đối kháng rộng trên các loài nấm gây bệnh trên cây trồng
  • Sử dụng nhiều cơ chế để kháng lại các vi sinh vật gây bệnh
  • Tồn tại lâu dài trong đất nhờ khả năng tự sản sinh ra bào tử
  • Phát triển nhanh trong đất
  • Đẩy nhanh quá trình hấp thu chất dinh dưỡng và kích thích tăng trưởng cây trồng
KS. ĐẶNG BÁ LONG
Lược dịch theo Christian P. Kubicek và Gary E. Harman
Tài liệu quá hay và xúc tác.
cảm ơn pap.:inlove:
 
Top